Starbucks là một thương hiệu cà phê nổi tiếng trên thế giới. Hãng có trụ sở chính tại Seattle, Washington, Hoa Kỳ. Sau một thời gian dài hình thành và phát triển, đến nay thương hiệu này đã có hơn 23.000 quán ở 64 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới. Để đạt được kết quả tuyệt vời này phần lớn nhờ vào việc áp dụng và phân tích thành công mô hình 5 áp lực cạnh của Michael Porter từ đó đưa ra những chiến lược marketing hiệu quả. Hãy cùng Marketing AI phân tích mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Starbucks qua bài viết dưới đây.

Giới thiệu tổng quan về Starbucks

Quán cà phê Starbucks được thành lập vào ngày 30 tháng 3 năm 1971 bởi Jerry Baldwin – ông là một giáo viên tiếng Anh, Zev Siegl – một giáo viên lịch sử và Gordon Bowker – mộtgiới th nhà văn tại số 2000 Western Avenue (Seattle, Washington)

Starbucks được thành lập với nguồn cảm hứng từ Alfred Peet – người sáng lập hãng Peet”s Coffee & Tea. Ban đầu, những người chủ sáng lập Starbucks mua hạt cà phê xanh từ Peet”s. Một thời gian sau, quán chuyển về số 1912 Pike Place, nơi mà bây giờ vẫn còn tồn tại, và họ cũng bắt đầu mua cà phê hạt trực tiếp từ các nông trại.

Qua hơn 50 năm hình thành và phát triển, hiện nay hãng đã có mặt trên 49 quốc gia với 17.800 quán trên toàn thế giới. Thương hiệu cà phê Starbucks xâm nhập thị trường Việt Nam từ năm 2013 với cửa hàng đầu tiên đặt tại TP.HCM. Mặc dù là một thương hiệu mới nhưng khi mới bước chân vào thị trường Việt Nam, Starbucks đã gây sốt khi mang đến một hương vị cafe mới lạ mang phong cách của người Mỹ.

Thương hiệu cà phê Starbucks

Phân tích mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Starbucks

Phân tích đối thủ cạnh tranh của Starbucks trong ngành

Starbucks phải đối mặt với sức ép cạnh tranh mạnh mẽ đến từ các đối thủ trong ngành dịch vụ ăn uống và quán cà phê.

  • Số lượng lớn các công ty (Áp lực mạnh)
  • Vừa phải nhiều công ty (Áp lực vừa phải)
  • Chi phí chuyển đổi thấp (Áp lực mạnh)

Số lượng lớn các đối thủ cạnh tranh là một yếu tố làm gia tăng sự cạnh tranh gay gắt trong ngành. Tập đoàn Starbucks có rất nhiều đối thủ cạnh tranh với những quy mô khác nhau. Tại Hoa Kì, thị phần của Starbucks là lớn nhất sau đó là đến các đối thủ cạnh tranh như Dunkin ”Donuts, McCafe, McDonald”s, Maxwell House and Folgers. Tuy nhiên, với chất lượng cao cấp và sự khác biệt dựa trên sản phẩm mà Starbucks mang lại đã giúp hãng có một số lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh.

Chúng ta có thể thấy Starbucks đã kiểm soát mối đe dọa cạnh tranh đối với mình dựa trên chất lượng cao cấp của sản phẩm cũng như chất lượng dịch vụ khách hàng. Ngoài ra, thương hiệu cà phê toàn cầu đã quản lý xuất sắc chuỗi cung ứng của mình, điều này đã làm giảm vị thế thương lượng của họ. Phân tích mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter đối với Starbucks cho thấy thương hiệu này vẫn mạnh mẽ chống lại những mối đe doạ cạnh tranh nhờ vào năng lực cốt lõi của mình.

Quyền thương lượng từ khách hàng

Quyền thương lượng từ khách hàng là một trong những yếu tố có ảnh hưởng và gây áp lực lớn đối với Starbucks. Dựa trên chi phí chuyển đổi thấp giữa các loại đồ uống, khách hàng có thể dễ dàng thay thế đồ uống của Starbucks bằng các loại đồ uống của các hãng khác. Ngoài ra, khả năng thay thế cao có nghĩa là khách hàng có thể tránh xa Starbucks nếu họ muốn, vì có nhiều sản phẩm thay thế như đồ uống đóng chai từ các máy bán hàng tự động. Những yếu tố mạnh mẽ này làm lu mờ thực tế là việc mua hàng của từng cá nhân là nhỏ so với tổng doanh thu của công ty. Quy mô nhỏ của việc mua hàng cá nhân tương đương với ảnh hưởng yếu của người mua cá nhân đối với doanh nghiệp. Mặc dù yếu kém như vậy, hai yếu tố bên ngoài còn lại củng cố khả năng thương lượng của khách hàng. Vì vậy,Hỗn hợp tiếp thị hoặc 4Ps của Tập đoàn Starbucks cung cấp hỗ trợ cho việc củng cố thương hiệu nhằm giải quyết một phần khả năng thương lượng của người tiêu dùng.

Quyền thương lượng từ các nhà cung cấp

Các nhà cung cấp chỉ có thể gây áp lực từ mức thấp đến trung bình đối với Starbucks. Thương hiệu này có chính sách đa dạng nhà cung cấp riêng mà họ sử dụng để lựa chọn nhà cung cấp. Tìm nguồn cung ứng tốt là một chính sách quan trọng khác của Starbucks. Thương hiệu này có nguồn gốc từ cà phê từ một số nơi trên thế giới. Starbucks cũng đang trực tiếp hợp tác và phát triển trực tiếp cùng những người nông dân trồng cà phê. Chính vì điều này mà Starbucks đã có quyền kiểm soát cao hơn đối với chuỗi cung ứng của mình. Loại bỏ những người trung gian và bắt đầu tìm nguồn cung ứng trực tiếp từ những người nông dân. Starbucks đã phát triển mối quan hệ tuyệt vời với cả cộng đồng trồng chè và ca cao với việc giúp đỡ và đào tạo họ về các phương pháp canh tác ca cao tốt hơn và giúp họ thu được lợi nhuận tối đa từ đó. Tất cả những điều này đã làm giảm ảnh hưởng của những người hòa giải và các nhà cung cấp. Hơn nữa, số lượng nhà cung cấp nhiều và Starbucks có nhiều cơ hội để lựa chọn. Vì vậy, việc quản lý chuỗi cung ứng xuất sắc của họ trong thập kỷ qua đã làm giảm khả năng thương lượng của các nhà cung cấp và đưa nó xuống thấp.

Sự đe dọa đến từ các sản phẩm thay thế

Số lượng sản phẩm thay thế cho cà phê thương hiệu Starbucks là rất cao. Từ nước trái cây đến trà và đồ uống có cồn cũng như không cồn, có một số sản phẩm thay thế có sẵn trên thị trường. Có những quán rượu và nhà hàng cung cấp cả không gian tốt và các sản phẩm chất lượng. Một nguồn đe dọa khác trong lĩnh vực này là các sản phẩm tự chế mà người tiêu dùng có thể làm ở nhà. Ngoài ra, chi phí chuyển đổi là không đáng kể. Tất cả các yếu tố này làm cho các sản phẩm thay thế trở thành mối đe dọa từ trung bình đến lớn. Tuy nhiên, có một số yếu tố làm giảm mối đe dọa này ở một mức độ nào đó. Ngoài cà phê chất lượng cao, dịch vụ khách hàng tuyệt vời và không gian tuyệt vời, Starbucks còn bán cà phê đóng gói và máy pha cà phê cao cấp. Chất lượng cao cấp và lòng trung thành với thương hiệu làm giảm bớt mối đe dọa của các sản phẩm thay thế ở một mức độ nào đó.

Mối đe dọa từ những doanh nghiệp mới tham gia

Mối đe dọa của những người mới tham gia đối với Starbucks là vừa phải. Rào cản gia nhập ngành không cao và vốn đầu tư ban đầu để bắt đầu xây dựng một thương hiệu cà phê cũng không cao. Mức độ bão hòa trong ngành cao vừa phải. Những người mới tham gia có thể cạnh tranh với các thương hiệu như Starbucks ở cấp địa phương. Tuy nhiên, khả năng thành công của họ vẫn ở mức thấp đến trung bình. Starbucks đã chiếm được thị phần lớn dựa trên cơ sở hạ tầng, hiệu quả và chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, chi phí chuyển đổi thấp, các thương hiệu mới có thể thu hút khách hàng bằng cách sử dụng giá thấp hơn. Vì vậy, mối đe dọa của những người mới tham gia vẫn còn. Tuy nhiên, nó bị giảm nhẹ ở mức độ lớn bởi hình ảnh thương hiệu, thị phần và các yếu tố khác như lòng trung thành với thương hiệu. Một yếu tố quan trọng mang lại lợi thế cạnh tranh cho thương hiệu Starbucks là khả năng tiếp cận nguồn nguyên liệu và nhà cung cấp. Dựa trên quy mô, phạm vi và khả năng thanh toán, Starbucks có khả năng tiếp cận cà phê chất lượng tốt hơn và một số lượng lớn hơn các nhà cung cấp trên toàn cầu. Tất cả những yếu tố này hoạt động để kiểm soát mức độ đe dọa gây ra bởi những người mới tham gia.

Kết luận

Bằng việc phân tích mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter đối với doanh nghiệp. Tập đoàn Starbucks có thể có được bức tranh toàn cảnh về những gì tác động đến lợi nhuận của tổ chức trong ngành. Họ có thể sỡ xác định được xu hướng thay đổi trong ngành và có thể phản ứng nhanh chóng để khai thác cơ hội mới. Bằng các hiểu chi tiết về mô hình 5 áp lực cạnh tranh, các nhà quản lý của starbucks có theer định hình các lực lượng đó theo hướng có lợi cho họ.

Xem thêm:

  • Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Google: “Gã khổng lồ” trị giá 458 tỷ đô la
  • Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Shopee: Giấc mơ trở thành một Amazon thứ hai

Categorized in: